image banner
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH XÃ THƯỢNG NINH
1. Thông tin khái quát. Xã Thượng Ninh hiên nay được thành lập theo Nghị quyết số 1686/NQ-UBTVQH15 ngày 16 tháng 6 năm 2025 của UBTVQH về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Thanh Hóa năm 2025, có diện tích 92,60 km2, dân số 13.991 người, trên cơ sở nhập toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã: Thượng Ninh (diện tích tự nhiên 50,73 km2,dân số 7.835 người), Cát Tân (diện tích tự nhiên 15,90 km2, dân số 3.116 người) và Cát Vân (diện tích tự nhiên 25,98 km2, dân số 3.040 người).

          - Vị trí địa lý : Xã Thượng Ninh nằm ở phía t ây nam của tỉnh Thanh Hóa , cách trung tâm tỉnh 60 km. phía Bắc giáp xã Thắng Lộc, xã Tân Thành; phía Nam giáp xã Hóa Qùy và xã Như Xuân; phía Đông giáp xã Xuân Du, xã Như Thanh; phía Tây giáp xã Thanh Quân .

- Địa hình, địa mạo: Xã Thượng Ninh có địa hình tương đối phức tạp, có độ cao trung bình từ 300 – 500 m, nơi cao nhất là đỉnh núi Pù Mùn khoảng 770 mét so với mặt nước biển , độ dốc trung bình từ 15 - 20 0 . Địa hình thấp dần từ hướng Tây sang hướng Đông, tạo ra những dải đất cao thấp xen kẽ nhau nhưng độ chênh không lớn thuận lợi cho việc bố trí các loại cây trồng, vật nuôi, xây dựng cơ bản.

- Tình hình thời tiết khí hậu:

+ Nhiệt độ: Tổng nhiệt độ năm là 8.500 0 C - 8.600 0 C, biên độ năm: 12-13 0 C, biên độ ngày: 5,5 - 6,0 0 C. Những tháng có nhiệt độ cao là từ tháng 5 đến tháng 9, bình quân từ 28 - 29 0 C. Ngày có nhiệt độ tuyệt đối cao nhất chưa quá 41 0 C. Những tháng có nhiệt độ thấp nhất là từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau.

+ Mưa: Tổng lượng mưa trong năm từ 1600 mm - 1800 mm (thuộc khu vực có lượng mưa trung bình trong vùng), lượng mưa tập trung vào tháng 6- 10 (chiếm đến 80% lượng mưa cả năm); tháng 9 có lượng mưa lớn nhất, lượng mưa ít nhất vào tháng 12 và tháng 1 năm sau.

+ Độ ẩm không khí: Trung bình trong năm 80 86%, các tháng 2, 3, 4 có độ ẩm xấp xỉ 90%.

- Gió: Thông thường có 2 hướng gió chính, đó là gió mùa Tây Bắc và gió mùa Đông Nam. Tốc độ gió trung bình từ 1,8 - 2,2 m/s. Ngoài ra còn có các đợt gió Tây Nam khô nóng và gió bão thường xuất hiện từ tháng 6 đến tháng 9 ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và sức khoẻ con người.

- Tài nguyên Đất: Tổng diện tích tự nhiên 92,60 km 2. Trong đó: Tổng diện tích đất nông nghiệp của toàn xã là 8.632 ha: (Diện tích gieo trồng cây hàng năm của toàn xã là 1.361,01 ha; Đất trồng cây lâu năm 660.64 ha, đất lâm nghiệp 6.381,98ha, đất nuôi trồng thủy sản 225,35 ha, đất nông nghiệp khác 8,88 ha). Đất đai tương đối thuận lợi cho sản xuất cây lúa nước và các cây công nghiệp như cây keo, cây mía, cây sắn...

- Tài nguyên nước:

+ Nước mặt: Nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân đươc lấy chủ yếu từ các sông, suối, ao hồ có trên địa bàn xã, đây là nguồn dự trữ nước khi mực nước sông chính xuống thấp, đặc biệt là vào mùa khô. Ngoài ra lượng nước mưa hàng năm cũng là nguồn cung cấp, bổ sung nước ngọt cho sinh hoạt và sản xuất của nhân dân.

+ Nước ngầm: Nước ngầm ở đây phân bố chưa đồng đều, tuỳ theo địa hình mà nước ngầm được phân bố ở độ sâu, cạn khác nhau và thường nằm ở độ sâu từ 8 – 10 m. Nguồn nước sạch theo đánh giá là chưa bị ô nhiễm. Hiện tại trong xã có khoảng 85% tổng số hộ dùng giếng khơi để phục vụ sinh hoạt.

- Dân cư: Thượng Ninh gồm 4 dân tộc cùng chung sống đan xen đó là (dân tộc Thái, dân tộc Thổ, dân tộc Mường, dân tộc Kinh) ; trong đó người Thái, người Thổ, người mường đã có mặt từ lâu đời từ trước năm 1945; người Kinh thì có mặt sau năm 1945 từ khi Đảng và nhà nước có chủ trương lên khai phá vùng kinh tế mới, đến đầu năm 1963 thì người kinh mới định cư lên khu vực xã Thượng Ninh. Như vậy xã Thượng Ninh hiện nay là nơi hội tụ của cư dân các nơi về khai phá hình thành nên làng xóm. Tổng số dân của xã tính đến ngày 01/07/2025 là 13.991 ng ười (nguồn số liều từ dữ liệu Quốc gia về dân cư) .

- Giao thông : Thượng Ninh nằm tiếp giáp với các xã, trong tỉnh có hệ thống mạng lưới giao thông tương đối đồng bộ theo hai trục Bắc - Nam, Đông - Tây, rất thuận tiện cho việc giao lưu, trao đổi buôn bán hàng hóa. Đường Hồ Chí Minh đi qua xã chiều dài 8km; Đường tỉnh lộ 514 đi qua với chiều dài 6km; tuyến đường liên xã 520C nối xã Như Xuân – Thanh Quân, đường Thượng Ninh – Hóa Quỳ, đường Thượng Ninh - Tân Thành, đường Thượng Ninh – Thắng Lộc, đường ATK 4,7km . Ngoài ra trên địa bàn xã có các tuyến đường liên thôn, nội thôn nối với nhau, thuận lợi cho nhân dân đi lại và lưu thông hàng hóa.

- Tự nhiên - cảnh quan : Thượng Ninh nằm ở phía tây nam của tỉnh Thanh Hóa , có sông Xanh, sông Nhà Bà, sông Bóng Trùng , sông Khe Rào chảy qua ; có n úi Mũ Đồng Cân, Lèn Khoai , núi đất Đồng Chự , núi Bù Chành , núi Quạt , núi Dốc Mó , núi Khe Khoai - Đồng Ngấn , núi Pù Mùn. Ngoài ra, còn có hàng chục đồi núi thấp nằm xen kẽ ở các làng , bản , các đồi núi nhỏ này đều có tên gọi từ xa xưa truyền lại và theo tiếng dân tộc Thái, dân tộc Mường , dân tộc Thổ. Dãy núi đá vôi thuộc địa phận thôn Phụ Vân có 2 hang động : H ang Lèn Hung (còn gọi là hang khe nước ấm vì trong lòng hang có chảy ra một dòng nước nhỏ có đặc điểm mát về mùa hè và ấm về mùa đông) ; hang Dơi nằm phía trên hang Lèn Hung, trong hang có nhiều d ơi sinh sống , 2 hang này có chiều dài hơn 500m , rộng từ 3 - 8m, trong hang hình thành hệ thống thạch nhũ rất đẹp .

Xen lẫn núi non là các hồ đập tạo nên cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ như Đập Bừa Rằm có diện tích 13ha nằm chân núi Pù Mùn (thôn Vân Thượng); đập Đồng Man (thôn Cát Lợi) rộng 3,2ha; đập Cây Bưởi (thôn Xuân Thượng) rộng 4ha; đập Đồng Song (thôn Đức Thắng) rộng 2,5ha; đập Cây Phay, đập Đồng Cùng thôn Cát Xuân… ngoài ra còn hàng chục hồ đập lớn nhỏ nằm rãi rác ở các thôn, các hồ đập là nơi dự trữ và cung cấp nước tưới cho cây trồng, đặc biệt là cho hơn 600ha lúa nước trên địa bàn xã.

- Di tích Lịch sử: Đình Phắt từ thời kỳ v ua Duy Tân, đã tồn tại và phát triển hơn 100 năm, là chỗ dựa tình thần của người dân, là một trung tâm văn hoá, tín ngưỡng lúc bấy giờ. Tuy nhiên, sau khi Cách mạng tháng Tám thành công ngôi đình đã bị phá hủy, đến nay chỉ con lưu giữ được 05 đạo sắc phóng của các đời vua triều Nguyễn, 02 chân tảng bàn thờ và vị trí nền của đ ình.

Bản sắc phong số 1

C:\Users\Administrator\Desktop\New folder\IMG_7292.JPG

Bản sắc phong số 2

C:\Users\Administrator\Desktop\New folder\IMG_7294.JPG

Bản sắc phong số 3

C:\Users\Administrator\Downloads\Cát vân4.1.jpg

Bản sắc phong số 4

C:\Users\Administrator\Desktop\New folder\IMG_7295.JPG

Sắc phong số 5:

 

Chân tảng bàn thờ

Hình ảnh 1

- Truyền thống cách mạng : Trong những năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Thượng Ninh là địa bàn tập kết, trung chuyển vũ khí, lương thực vào chiến trường miền Nam, có Đoàn vận tải C35; đơn vị Thông tin 559 đóng tại thôn Đồng Tâm; Kho quân giới N9 đóng tại thôn Đồng Ngấn. Trong các cuộc kháng chiến, xã có 1.908 người tham gia chiến đấu; 162 Liệt sĩ; 12 mẹ Việt Nam anh hùng.

- Tổ chức Đảng: Đảng bộ xã Thượng Ninh hiện có 37 tổ chức cơ sở Đảng, với 688 đảng viên (đảng viên nữ 264, đảng viên là người dân tộc 428).

- Trường học: Trên địa bàn xã có 08 trường học, 8/8 trường đã đạt chuẩn quốc gia mức độ I (03 trường Mầm Non, 02 trường Tiểu học, 02 trường THCS, 01 trường TH&THCS), tổng số lãnh đạo quản lý, giáo viên được giao năm 2025 tại Quyết định số 2129/QĐ-UBND, ngày 26/6/2025 của UBND tỉnh là: 216 người; số biên chế có mặt tại thời điểm hiện tại là: 215 người, trong đó: Biên chế: 199 người; Lao động hợp đồng 111 được tỉnh giao: 13 người; Hợp đồng khác 03 người.

- Trạm Y tế: Số trạm y tế trên địa bàn xã là 3 trạm với 17 nhân viên trong đó có 03 bác sỹ. Thực hiện công tác, khám điều trị bệnh ban đầu cho nhân dân, phòng trừ dịch bệnh.

- Thôn, bản: X ã Thượng Ninh hiện nay có 22 thôn, gồm: Đức Thắng, Đ ô ng Xuân, Khe Khoai, Đồng Ngấn, Xuân Thượng, Tiến Thành, Đồng Tâm, Đồng Minh, Đồng Thanh, Đồng Chành , Đồng Hả , Vân Hòa, Vân Bình, Vân Thành, Vân Thượng, Vân Tiến và Vân Trung, Cát Xuân, Thanh Vân, Cát Lợi, Phụ Vân, Cát Thịnh .

2. Các thôn trên địa bàn xã

2.1. Thôn Đức Thắng

Tháng 8 năm 2018, theo Quyết định 3110/QĐ- UBND của UBND tỉnh Thanh Hóa, sáp nhập thôn Đức Thắng và thôn Minh Đức để thành lập thôn Đức Thắng.

- Thôn Đức Thắng nằm ở phía đông nam của xã Thượng Ninh. Thôn Đức Thắng cùng với thôn Minh Đức trước đây là làng Cự Đức. Đến năm 1978, thành lập Hợp tác xã Đức Thắng. Năm 2007, mới chia tách thành thôn Đức Thắng và thôn Minh Đức.

Thôn Đức Thắng có địa hình phức tạp, nhiều sông, suối, đồi núi như: Khe Bến Mới, Khe Cây Lội, Đồi Cò Khưa, độ cao 100 m so với mực nước biển, cách trung tâm nhà văn hóa thôn khoảng 200 m về phía tây bắc. Các xứ đồng: Đồng Cây Mang (có cây mang cổ thụ); Đồng Cây Mít (có cây mít cổ thụ); Đồng Bừa Ban (có nhiều cây ban ban (cây mâm xôi); Đồng Chìa (trước đây ở mỗi thân ruộng nhân dân thường hay đắp một vũng nước để cho các loài cá vào trú ngụ nên gọi là Đồng Chìa); Đồng Đình (trước đây có Đình làng ở khu vực này); Đồng Ngà (trước đây nhân dân khai hoang phát hiện thấy có ngà voi nên lấy tên là Đồng Ngà); Đồng Cây Sang (trước đây có cây sang lớn mọc ở khu vực này); Đồng Cừn.

- Thôn Minh Đức cùng với thôn Đức Thắng trước đây là làng Cự Đức. Thôn Minh Đức có khe Rộc Sạu chiều dài khoảng 1,2 km, có đồi Đầm Trời độ cao 500 m so với mực nước biển. ở trên đỉnh khu vực đồi này có một vũng ao nhỏ luôn có nước nên người Mường nơi đây gọi là Đầm Trời.Trên địa bàn thôn có các cánh đồng : Hàm Voi (ngày trước, nơi đây có nhiều voi); Rộc Dong (trước đây có nhiều cây dong); Rẫy Bái (trước đây có nhiều cây cỏ tranh); .

Thôn Đức Thắng hiện nay có 232 hộ, 1.073 nhân khẩu.

2.2. Thôn Đông Xuân

Tháng 8 năm 2018, theo Quyết định 3110/QĐ- UBND của UBND tỉnh Thanh Hóa, sáp nhập thôn Đông Xuân và thôn Xuân Phú để thành lập thôn Đông Xuân

- Thôn Đông Xuân nằm ở phía đông của xã Thượng Ninh. Đông Xuân là vùng đất cổ có từ cuối thế kỷ 17. Tương truyền ông Bùi Văn Khi và Ông Bùi Văn Bùm là những người đầu tiên di cư từ tỉnh Hòa Bình đến vùng đất này khai đất lập làng.

Năm 1960, thôn Đông Xuân gọi là HTX Bến Bưởi. Năm 1963, thôn đón thêm các hộ người Kinh từ xã Quảng Phú - Quảng Xương lên định cư nên chia thành 3 HTX nhỏ: HTX Bến Bưởi, HTX Sông Xanh, HTX Ninh Thông. Đến năm 1996 giải thể HTX và đổi tên thành thôn Đông Xuân cho đến nay.

Thôn có các xứ đồng (gọi theo tiếng Mường): Rú Trống (có nhiều ao); Cửa Mương (có con mương gần đập); Đồng Giang (trước đây có đồi giang); Ngọc Lọng (khu vực nước quẩn vào mùa mưa); Cây Nhó (có cây nhò); Bến Nậm (có bến Nước); Rảy Khoán.

- Xuân Phú là vùng đất mới được khai hoang từ năm 1978. Thời điểm thực hiện chính sách định cư của Nhà nước gọi là thôn Xuân Phú. Thôn có suối Khe Khoai chiều dài khoảng 3 km. Có đồi Cây Sến, núi Mã Đồng Cằn…

Thôn Đông Xuân hiện nay có 187 hộ, 946 nhân khẩu.

2.3. Thôn Khe Khoai .

Thôn Khe Khoai nằm ở phía bắc của xã Thượng Ninh, cách trung tâm xã 4 km. Theo truyền ngôn của dân làng, vào cuối thế kỷ thứ XVII nơi đây núi rừng còn âm u, rậm rạp có ông Đảm từ huyện Triệu Sơn trước đây đến hái lượm nguồn sinh vật củ, quả, mật ong. Thấy nơi đây có thể xây cơ lập nghiệp, ông đã chuyển gia đình đến khai hoang, vỡ đất xây cơ lập nghiệp. Vào giữa thế kỷ thứ XVIII có hai dòng họ từ Mường Khụ Hòa Bình di cư đến. Ngày ấy, họ lấy cây khoai môn mọc rất nhiều để chăn nuôi lợn và lấy luôn tên loài cây đặt tên làng - làng Khe Khoai. Tên làng tồn tại cho đến bây giờ.

Thôn Khe Khoai có suối Khe Khoai, bắt nguồn từ Đồng Ngấn, chảy qua với chiều dài trên 3km; Khe Đất Đỏ, bắt nguồn từ Phía đông của lèn Khe Khoai, chảy qua thôn 1km. Khe Lèn bắt nguồn từ chân Lèn Khoai chảy ra có chiều dài 2 km. Khe Đá Rát bắt nguồn từ chân dốc Mó dọc đường Tỉnh lộ 514 có chiều dài trên 3km. Người dân khai phá, canh tác trên các xứ đồng (gọi theo tiếng Mường): Đồng Rảy Dâu (trước đây là bãi trồng dâu nuôi tằm); Đồng Rảy Cằm (trước đây trồng lúa cằm); Đồng Ván Thuyền (khu tập kết gỗ làm ván đóng thuyền); Đồng Đá Rát (khu đồng có nhiều đá rát như hòn mài); Đồng Cây Trôi (khu vực có cây trôi to).

Thôn Khe Khoai hiện nay c ó 117 hộ, 534 nhân khẩu.

2.4. Thôn Đồng Ngấn

Thôn Đống Ngấn nằm ở phía đông nam của xã Thượng Ninh. Tên gọi trước đây là làng Đồng Ngấn, sau cải cách ruộng đất làm ăn tập thể gọi là HTX Đồng Ngấn. Từ năm 1996, thực hiện Nghị quyết số 9 của Tỉnh ủy Thanh Hóa chuyển thành thôn Đồng Ngấn cho đến ngày nay.

Theo truyền thuyết, Đồng Ngấn là vùng đất có từ lâu đời do 2 anh em họ Bùi thuộc mường Hẻm di cư từ Hòa Bình vào khai khẩn lập nghiệp. Sau đó, dòng họ Quách cũng đến làm ăn sinh sống, gọi là làng Đồng Ngấn.

Đồng Ngấn có các đồi, núi đá, núi đất như: Đồi Kim Giao; Đồi Đinh Hương; Đồi Mốc Năm (trước đây có cây cột mốc thứ 5 bằng gỗ nên lấy tên là đồi Mốc Năm). Có suối Đồng Ngấn bắt nguồn từ khe nhỏ trong núi dài khoảng 5km. Suối là nguồn nước dùng để sinh hoạt và sản xuất trên các xứ đồng: Cây Chồng (có cây bung lớn); Cây Lộn (có cây lộn cổ thụ); Rừng Chuối (khu chuối rừng, Cây Đa (có cây đa cổ thụ); Ải Vầu (có khu vườn măng đắng); Lò Gạch (khu lò gạch).

Thôn Đồng Ngấn hiện nay c ó 77 hộ, 351 nhân khẩu.

2.5. Thôn Xuân Thượng

Xuân Thượng là vùng đất cổ, có tên gọi là làng Len. Năm 1978, thành lập HTX Tâm Phú Thành, đến năm 1993 chia tách thành thôn Xuân Thượng.

Thôn có suối Cây Sổ từ hướng Đông Nam chảy ra phía bắc có chiều dài khoảng 4km; suối Hón Len chảy từ hướng Tây Nam ra phía đông đổ ra suối Cây Sổ dài 1,5km. Núi Mủ Đồng Cân; Đồi Cây Đa nằm ở vị trí trung tâm của thôn. Trên địa bàn thôn có các xứ đồng: Đồng Ao (có nhiều ao); Na Len (ông Len người đầu tiên đến vùng đất này); Đồng Củ (trước đây có nhiều củ Nâu); Đồng Đền (trước đây rìa đồng có một cái đền).

Thôn Xuân Thượng hiện c ó 205 hộ, 957 nhân khẩu khẩu.

2.6. Thôn Tiến Thành.

Thôn Tiến Thành là vùng đất cổ từ lâu đời. Trước đây có tên gọi là bản Cộc - Đung Cọ, gọi theo tiếng dân tộc Thái; Năm 1950 - 1960, là thôn Liên Thắng; Năm 1961 - 1965, là đội sản xuất Liên Tiến, Liên Thành; Năm 1966 - 1977, là Hợp tác xã Tiến Thành; năm 1978 - 1993, là Hợp tác xã Tâm Phú Thành. Đến tháng 10 năm 1993 chia tách thành thôn Tiến Thành cho đến nay.

Thôn có các đồi, núi: Núi Mủ Quạt; đồi Yến Mạ cách trung tâm thôn khoảng 800m về phía tây nam. Có các xứ đồng: Đồng Mò (nơi đây có nhiều khe mó nước chảy); Pha Mát (có núi đá Lèn Mát); Ngoài ra, có đồng Ngọc Thú, Ngọc Ổi.

Thôn Tiến Thành hiện có 158 hộ, 732 nhân khẩu khẩu.

2.7. Thôn Đồng Tâm.

Tháng 8 năm 2018, theo Quyết định 3110/QĐ - UBND của UBND tỉnh Thanh Hóa, sáp nhập thôn Đồng Tâm và thôn Sông Xanh để thành lập thôn Đồng Tâm.

- Thôn Đồng Tâm là vùng đất được hình thành từ đầu thế kỉ XIX do dân di cư từ Mường Hương, Mường Kỷ (thuộc huyện Quan Hóa, Bá Thước trước đây) chuyển đến. Trước đây, Đồng Tâm có tên gọi là làng Đồng Nòng, Đồng Cầu. Khi sát nhập 2 làng gọi là Đồng Tâm.

Địa bàn thôn có sông Xanh và núi Quạt cao 450m nằm ở phía tây của thôn. Sông Xanh chảy qua thôn khoảng 1km. Sông cung cấp nước sinh hoạt và sản xuất trồng cây lúa nước cho dân bản trên các xứ đồng: Đồng Cây Chự (Ruộng vừa sâu, vừa cạn); đồng Nòng (ruộng cạn); đồng Cầu (thuận lợi nước); đồng Mả Ca (có ruộng lầy; đồng Na Láy (ruộng khó sản xuất); đồng Cò Lạn (ruộng vừa lầy, vừa cạn); đồng Cò Khét (ruộng khó canh tác);

- Sông Xanh là vùng đất được hình thành từ khu vực đất ở của xã và một phần chia tách từ thôn Đông Xuân. Năm 1982 - 1987, thôn Sông Xanh có tên gọi Tư Thương. Khi đó có 9 hộ ở các vùng khác di cư đến buôn bán nên gọi là Tư Thương. Năm 1987 - 1997, gọi là làng Công Thương. Tên gọi của thôn Sông Xanh bắt đầu từ năm 1997 sau khi được công nhận thành lập thôn. Dân cư chủ yếu thuộc dân tộc Mường (chiếm 43%) và dân tộc Kinh (chiếm 41%) người dân sinh sống bằng nghề trồng trọt, chăn nuôi và kinh doanh, buôn bán

Thôn có Khe Sông Xanh, bắt nguồn từ khe Quặn, thôn Đồng Hả chảy qua thôn Đồng Chành, Bến Ván với chiều dài chảy qua thôn khoảng 1km. Sông Xanh cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp trồng cấy lúa nước ở 2 bên khe. Các xứ đồng thuộc thôn: Đồng Cầu Đất (có cây cầu đất trên đường vào khu đồng); đồng Cây Bươu (có cây Bươu cổ thụ giữa đồng); đồng Nước Rút (khu vực ngập nước nhanh khi mưa và rút nhanh khi tạnh); đồng Cây Đu (khu vực bãi xoan cạnh xứ đồng); đồng Rãy Kén (khu vực 2 bên xứ đồng trồng lúa rãy kén); đồng Đá Trơn (khu vực khe có nhiều lớp đá trơn); đồng Bên Cầu, (bên kia cầu của khu dân cư). Tên của các cánh đồng đều gọi theo tiếng dân tộc Mường.

Thôn Đồng Tâm hiện nay có 205 hộ, 965 nhân khẩu.

2.8. Thôn Đồng Minh.

Tháng 8 năm 2018, theo Quyết định 3110/QĐ - UBND của UBND tỉnh Thanh Hóa, sáp nhập thôn Đồng Minh và một phần thôn Đồng Sòng (để thành lập thôn Đồng Minh.

- Thôn Đồng Minh là vùng đất cổ, người Mường từ Hòa Bình di cư đến khai hoang lập làng vào khoảng cuối thế kỷ XIX. Ban đầu làng có tên là Đồng Sừng, theo các cụ cao niên trong thôn, khi khai phá phát nương làm rẫy các cụ nhặt được chiếc sừng nai nên gọi là Đồng Sừng. Sau đó sáp nhập với Đồng Ao, làng Kén, Sông Xanh gọi là Chòm Liên Hiệp. Sau đó sáp nhập Đồng Kén, Đồng Sừng, Cây U lấy tên là Liên Minh. Khi Liên Minh sát nhập với Đồng Sòng lấy tên là Minh Lực và sau khi sáp nhập Đồng Chành, Bến Ván với Đồng Thanh lấy tên là HTX Lực Thành. Sau khi giải thể Hợp tác xã Lực Thành chia tách thành các thôn. Đồng Minh là tên gọi ngày nay.

Thôn Đồng Minh có khe Cây Bo bắt nguồn từ thôn Đồng Sòng, có chiều dài khoảng 1km. Khe Đồng Bái bắt nguồn từ thôn Đức Thắng có chiều dài khoảng 0,5km. Người dân canh tác trên các cánh đồng, theo tiếng Mường: Đồng Cây Bo (có cây bo lớn cổ thụ); Đồng Bái (có khu Tranh Săng lớn); Đồng Giữa (khu vực giữa làng); Đồng Kén (trước đây có cây kén).

- Đồng Sòng là vùng đất cổ, dân cư chủ yếu trong thôn là dân tộc Mường, Năm 1978, là Hợp tác xã Lực Thành. Năm 1993, giải thể HTX chia tách thành thôn Đồng Sòng.

Thôn Đồng Minh hiện nay có 135 hộ, 645 nhân khẩu.

2.9. Thôn Đồng Thanh

Tháng 8 năm 2018, theo Quyết định 3110/QĐ - UBND của UBND tỉnh Thanh Hóa, sáp nhập thôn Đồng Thanh và một phần thôn Đồng Sòng để thành lập thôn Đồng Thanh.

Thôn Đồng Thanh là vùng đất cổ của người Mường khai phá từ lâu đời. Tương truyền, trước thế kỷ XVII, ông Bùi Văn Niệm người Mường làng Beo, tỉnh Hòa Bình di cư vào mường Như Lăng dựng trại, khai khẩn ruộng đất, phát nương, làm rẫy ngăn suối để xây cơ lập nghiệp tại khu Ngọc Đồng. Vào khoảng thế kỷ XVIII, ông Bùi Văn Lâm người Hòa Bình vào lập trại tại Rú Sảo, khai hoang ruộng đất sinh sống. Vào khoảng năm 1887, ông Bùi Văn Chật, con rể ông Niệm, người Mường, xã Xuân Du, tỉnh Thanh Hóa ngày nay lên cư ngụ tại Đồng Ao. Hình thành 3 cụm: Ngọc Đồng, Rú Sảo, Đồng Ao.

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Ngọc Đồng, Rú Sảo, Đồng Ao hợp lại, lấy tên là làng Đồng Thanh. Từ năm 1959, làng Đồng Thanh và làng Cây Dưa gọi là HTX Đồng Thanh. Năm 1968 - 1969, HTX Đồng Thanh, HTX Đồng Sòng sát nhập lấy tên gọi là HTX Đồng Lực. Năm 1969 - 1974, HTX Đồng Lực, HTX Đồng Minh liên kết thành HTX Minh Lực; đến năm 1978, sáu làng: Đồng Hả, Đồng Chành, Bến Ván, Đồng Sòng, Đồng Thanh, Đồng Minh thành lập HTX cấp cao Lực Thành. Đồng Thanh là đội 5 HTX Lực Thành. Sau khi giải thể HTX, năm 1993, đội 5 HTX Lực Thành lấy tên gọi là thôn Đồng Thanh cho đến nay. Tháng 8 năm 2018, theo Quyết định 3110/QĐ - UBND của UBND tỉnh Thanh Hóa, sáp nhập thôn Đồng Thanh (90 hộ, 377 nhân khẩu, diện tích 135,67ha) và một phần thôn Đồng Sòng (33 hộ, 141 nhân khẩu, diện tích 31ha) để thành lập thôn Đồng Thanh.

Thôn có khe Cây Bừng, khe Cây Kè, khe Rầm Rầm. Có một dãy núi cao khoảng 150 m, gọi là Rú Sòng, cao khoảng 500 m so với mực nước biển, là ranh giới giữa làng Đồng Thành với thôn Thắng Sơn của xã Yên Lễ. Người dân canh tác trên các xứ đồng, theo tiếng Mường: Đồng Cây U (nơi này có cây U cổ thụ); Ngọc Đồng (đồng ruộng thoáng, thuận lợi nước tưới tiêu, đất tốt); đồng Rú Sảo (cánh đồng bắt nguồn từ Rú Sòng; đồng Cây Cạy (có cây cạy cổ thụ ở đầu nguồn); đồng Cây Bừng (có cây bừng cổ thụ ở đầu nguồn); Đồng Cằm (khu vực không thuận lợi về nước tưới tiêu).

Thôn Đồng Thanh hiên nay có 124 hộ, 529 nhân khẩu.

2.10. Thôn Đồng Chành

Tháng 8 năm 2018, theo Quyết định 3110/QĐ - UBND của UBND tỉnh Thanh Hóa, sáp nhập thôn Đồng Chành và thôn Bến Ván để thành lập thôn Đồng Chành.

- Thôn Đồng Chành: Theo người xưa kể lại, gia đình ông Bùi Văn Thành người dân tộc Mường là chủ nhân đầu tiên khai hoang khu đất này, sau đó mới có các gia đình khác chuyển đến sinh sống. Từ 4 dòng họ đã hình thành nên làng Đồng Chành.

Địa bàn thôn có khe Chành (gọi chung với tên làng) độ dài khoảng 4km. Đồi Bù Chành, độ cao khoảng 1500m so với mặt nước biển. Khi làm nhà, các cụ dựng nhà theo dọc chân núi, dựa lưng vào núi có hướng ra cánh đồng trước làng. Thôn có các cánh đồng: Đồng Sông Xanh (dọc theo rìa sông); đồng Cây Sống (có cây sống to); đồng Cây Lội (có cây lội cổ thụ); đồng Cây Trâu (có cây trâu to); đồng Trước Làng (ở trước làng).

- Thôn Bến Ván là do người Mường khai hoang từ lâu đời. Tương truyền có một gia đình 4 khẩu từ mường Trào, tỉnh Hòa Bình vào Xuân Du rồi chuyển lên khai phá đất đai, dựng nhà sinh sống vào cuối thế kỷ XIX. Từ 1900 đến 1901, có 4 gia đình cũng từ Hòa Bình vào Xuân Du rồi lên lập nghiệp khoảng 18 nhân khẩu. Từ 1901 đến 1932, có thêm 1 dòng họ cũng từ Hòa Bình vào Phượng Nghi sau đó chuyển lên sinh sống. Từ năm 1932 đến 1958 làng Bến Ván mới có 11 hộ và 49 khẩu. Khi thành lập HTX gọi là thành lập HTX Bến Ván. Năm 1958 đến 1960 HTX Bến Ván gia nhập vào HTX Nhập Thành gồm 3 làng Bến Ván, Đồng Hả, Đồng Chành. Năm 1961, làng Bến Ván tách ra là một HTX và năm 1962 nhân dân từ Quảng Tâm, Quảng Xương lên định cư thành lập 1 HTX gọi là HTX Ninh Tâm. Năm 1965, Ninh Tâm và Bến Ván sáp nhập lại thành 1 đội sản xuất và được đặt tên là HTX Nhập Thành. Đến năm 1989 lại tách thành các thôn gọi là thôn Bến Ván.

Trên địa bàn thôn có khe Cái bắt nguồn từ thôn Đồng Hả chảy qua với độ dài khoảng 1 km. Khe Thú bắt nguồn từ Cát Tân chảy qua thôn với độ dài khoảng 1,5 km. Sông, suối là nguồn nước phục vụ tưới tiêu cho cây lúa nước. Thôn có các núi: Núi Sồi (nơi này trước đây có nhiều cây sồi). Núi Sồi cao khoảng 500 m so với mặt nước biển; Núi Xê (trước đây có nhiều cây Xê), núi Xê cao khoảng 400 m so với mặt nước biển. Thôn có các xứ đồng: Đồng Cằm (Đất khô hạn, nhân dân tỉa lúa cằm); đồng Cây Lim (có nhiều cây lim); đồng Cây Sẹt (có cây sẹt cổ thụ; đồng Cây Mòi (có cây mòi cổ thụ); đồng Đình (trước kia có 1 cái đình thờ).

Trên địa bàn thôn Bến Ván có Đình làng thờ Thành hoàng làng được xây dựng từ đầu thế kỷ XX.

Thôn Đồng Chành hiện nay có 143 hộ, 680 nhân khẩu.

2.11. Thôn Đồng Hả

Đồng Hả thuộc vùng đất cổ do người Mường khai hoang từ lâu đời. Thời điểm thành lập vào khoảng thế kỷ XIX, đồng bào dựng nhà dọc theo các chân đồi, ven suối để tiện làm ăn, sinh sống. Hiện nay, dân làng sinh sống thành từng cụm dọc theo 2 bên đường liên thôn.

Thôn có khe Quận bắt nguồn từ huyện Thường Xuân trước đây chảy qua, dài khoảng 8,5km là nguồn nước chính tưới tiêu cho ruộng đồng và cuộc sống sinh hoạt thường ngày của nhân dân. Các xứ đồng: Đồng Cây Sổ (có cây sổ giữa đồng); đồng Bai (bên cạnh cái Đập); đồng Hố Ban (khu rừng ban); đồng Hố Sắn (trước đây trồng sắn); Làng Khem (cánh đồng thiêng); đồng Bơn (có hộ ông Bơn ở khu vực); đồng Khe Cha (có cây cha cổ thụ); đồng Khe Quận (cánh đồng thường bị lũ lụt cuốn trôi). Thôn Đồng Hả có một số đồi núi, bà con trồng keo, luồng và một số cây khác. Đó là các đồi: Đồi Đu; Đồi Hố Đon; Rú Rán; Khe Quận; Lèn Rạ (núi đá). Ngoài ra, có thung lũng Đồng Khem (khu vực rất linh thiêng).

Thôn Đồng Hả hiện nay c ó 84 hộ, 410 nhân khẩu.

2.12. Thôn Vân Hòa.

Tháng 8 năm 2018, theo Quyết định 3110/QĐ - UBND của UBND tỉnh Thanh Hóa, sáp nhập thôn Vân Hòa và một phần thôn Vân Thương (để thành lập thôn Vân Hòa.

- Thôn Vân Hòa là vùng đất cổ thuộc Luống Cốc (thôn Vân Thượng hiện nay). Tháng 6 năm 1964 , hơn 23 hộ dân từ làng Bình Hòa, xã Quảng Châu, huyện Quảng Xương lên khai hoang lập nghiệp, lấy tên là làng Yên Hòa ( Yên là tên gọi của xã Yên Cát, Hòa là tên gọi của làng Bình Hòa).

Đến năm 1968 , làng Yên Hòa đổi tên thành Hợp tác xã Thái Hòa, gồm 3 đội sản xuất: Đội 1 là thôn Vân Hòa, Đội 2 thôn Vân Thương và Đ ội 3 thôn Vân Bình. Năm 1989 , Hợp tác xã Thái Hòa chia tách thành 2 thôn, Vân Hòa và thôn Vân Bình, còn 1 số hộ gộp vào tổ Công Thương. .

Thôn không có núi cao, chỉ có các dãy đồi thấp nằm rải rác trong thôn. Các xứ đồng: đồng Bống (thời xưa nơi đây có rất nhiều cá bống); đồng Giếng (trước đây có giếng nước); đồng Trôi (ngày trước, nơi đây có cây trôi cổ thụ đứng giữa cánh đồng); đồng Măng (ngày trước hai bên cánh đồng có nhiều loại măng); đồng Bai (có bai nước phục vụ tươi tiêu); đồng Khoang (trước đây là một khoang nhỏ, nhân dân khai hoang).

- Thôn Vân Thương nằm trên trục đường Yên Cát - Thanh Quân và đường Cát Vân - huyện Thường Xuân trước đây . Tháng 9/1989, sau khi chia tách hai xã Cát Vân và Cát Tân, xã Cát Vân hình thành tổ dân phố tại khu trung tâm UBND xã gồm có các hộ buôn bán và các hộ di cư từ nơi khác đến kinh doanh tại chợ xã Cát Vân. Đến tháng 2/1995, gọi là tổ Công Thương, trực thuộc UBND xã Cát Vân quản lý. Từ tháng 9/1995 đến năm 2017, tổ Công Thương được đổi tên là thôn Vân Thương. Tên gọi thôn với nghĩa Vân thuộc xã Cát Vân, Thương là nơi giao thương hàng hóa nên gọi Vân Thương . Vùng đất của thôn Vân Thương hiện nay là vùng đất cổ thuộc thôn Vân Hòa và thôn Vân Thọ chia tách.

Thôn Vân Hòa hiện nay có 1 16 hộ, với 533 nhân khẩu.

2.13. Thôn Vân Bình.

Tháng 8 năm 2018, theo Quyết định 3110/QĐ - UBND của UBND tỉnh Thanh Hóa, sáp nhập thôn Vân Bình và thôn Vân Thọ và một phần thôn Vân Thương để thành lập thôn Vân Bình.

- Thôn Vân Bình được hình thành từ khoảng năm 1936 gọi là trại Môn, do khu vực này có rất nhiều khoai môn. Năm 1970, sát nhập vùng Trại Môn của người Thái cư trú và người Kinh thuộc thôn Yên Hòa, xã Quảng Châu, huyện Quảng Xương lên định cư thành Đội 3 HTX Thái Hòa.

Năm 1989, sau khi chia tách HTX Thái Hòa thành 3 thôn, gọi là thôn Vân Bình ( Vân là chữ lấy trong xã Cát Vân, Bình lấy từ địa danh thôn Bình Hòa). Tháng 8 năm 2018, theo Quyết định 3110/QĐ - UBND của UBND tỉnh Thanh Hóa, sáp nhập thôn Vân Bình (74 hộ, 285 nhân khẩu, diện tích 196,6ha) và thôn Vân Thọ (49 hộ, 197 nhân khẩu, diện tích 82ha) và một phần thôn Vân Thương (20 hộ, 100 nhân khẩu, diện tích 5ha) để thành lập thôn Vân Bình.

Thôn có các xứ đồng: đồng Ban (có nhiều cây ban ban); đồng Mít (có nhiều cây mít); đồng Tranh (cánh đồng thường có tranh chấp); đồng Hãy (khu vực có nhiều cây thuốc hay); đồng Công (đầu nguồn); đồng Bứa (có nhiều cây bứa); đồng Rò (có nhiều rùa sinh sống); đồng Lối Vô (có nhiều ngõ vào ra); đồng Bôn (khu vực có nhiều khoai môn).

- Thôn Vân Thọ trước đây gọi là Bái Tràu . Bái Tràu là vùng đất cổ có nhiều cây tràu (trẩu) mọc, được nhân dân sử dụng làm nơi chăn thả trâu và có tên gọi là Bái Tràu (bãi cây tràu). Tháng 6 năm 1979, theo chủ trương của Đảng có 28 hộ dân xã Quảng Thọ, huyện Quảng Xương lên xây dựng vùng kinh tế mới, gọi là xóm Thọ Vân; Từ tháng năm 1983 đến tháng 6/1991 tên gọi là HTX Thọ Vân; từ năm 1991 đến nay tên gọi thôn Vân Thọ. Vân là xã Cát Vân, Thọ là nơi quê cũ Quảng Thọ để ghép thành Vân Thọ

Thôn Vân Bình hiện nay có 143 hộ, 576 nhân khẩu.

2.14. Thôn Vân Thành.

Tháng 8 năm 2018, theo Quyết định 3110/QĐ - UBND của UBND tỉnh Thanh Hóa, sáp nhập thôn Vân Thành và thôn Vân Sơn để thành lập thôn Vân Thành.

- T hôn Vân Thành thuộc làng Lúng Nôm tách ra. Năm 2007, thôn Vân Thành được chia thành thôn Vân Thành và thôn Vân Sơn.

Thôn có các dãy đồi thấp: đồi Tàu Bay, đồi Đồng Bóc, đồi Voi. Khe Hón Rào chảy qua lấy nước sinh hoạt và tưới tiêu cho các xứ đồng: đồng Chệnh, đồng Bót (có nhiều lau, lách đi làm ruộng bị ngứa), đồng Lèn (trước đây có nhiều hòn đá lèn ngoài ruộng), đồng Rẹo, đồng Nậy (lớn), đồng Rềnh, đồng Giếng Chu (có mó nước giếng và cây chu).

- Thôn Vân Sơn trước đây là làng Lúng Nôm, vùng đất cổ từ lâu đời của người Thổ. Theo truyền ngôn của dân làng, cách đây hơn 400 năm về trước, có một nhóm người đến khai phá đất đai, xây dựng lán trại. Ông đứng đầu tên là “Nôm” được nhà vua ban cho làm quan phủ, được hưởng lương của nhà vua, làm quan tại gia, nên gọi là quan phủ tại gia, cai quản 1 vùng miền, sau đó được gọi là quan Phủ Nôm. Quan Phủ Nôm có công khai phá đất đai, rừng núi, khai phá đến đâu được đặt tên ruộng, tên đồng, tên núi, tên khe đến đó. Từ đó đến nay vẫn được dân làng gọi theo tên cũ như Lúng Nôm, đồng Nôm.

Từ năm 1950 đến năm 1960, Lúng Nôm, Lúng Rẹo, Lúng Chệnh sát nhập gọi là xóm Nôm. Cuối năm 1960, là Hợp tác xã Nông nghiệp xóm Nôm thuộc xã Yên Cát (cũ). Năm 1964, xóm Nôm, xóm Cốc, xóm Đặng liên hợp lại lấy tên là Hợp tác xã Nông nghiệp Yên Vân, xã Cát Vân. Năm 1989, Hợp tác xã Yên Vân giải thể lập thành 3 thôn: Xóm Nôm gọi là thôn Vân Thành, xóm Cốc là thôn Vân Thượng, xóm Đặng là thôn Vân Trung. Năm 2007, thôn Vân Thành lại được chia ra 2 thôn: Vân Thành và Vân Sơn.

Vân Sơn có các dãy đồi núi thấp: đồi Bộng, đồi Đình, đồi Vàn . Người dân canh tác trên các xứ đồng: đồng Nôm (gọi theo tên người khai phá); đồng Chanh; đồng Hới; đồng Xắng; đồng Bứa; đồng Bai.

Thôn Vân Sơn có đình Phủ Nôm cách đây khoảng 400 năm thờ Ông Phủ Nôm, người có công khai phá lập làng. Hàng năm vào ngày 1 Tết nguyên đán đến ngày 15 tháng giêng âm lịch, được ông từ và các dòng họ đến tế lễ để nhớ người có công khai phá xây dựng nên đất đai, ruộng đồng. Hiện nay đình Phủ Nôm không còn.

Thôn Vân Thành hiện có 126 hộ, 522 nhân khẩu;

2.15. Thôn Vân Thượng.

Buổi đầu khai đất lập làng trên một quả núi có nhiều cây chè nên gọi làng Bù Chè, sau đó gọi là làng Cốc vì làng có nhiều núi. Làng tọa lạc ở khu vực cao nhất xã Cát Vân nên sau khi giải thể HTX gọi là thôn Vân Thượng cho đến ngày nay.

Thôn có dãy núi Bù Mùn, cao khoảng 799 m và các dãy đồi thấp nằm rải rác trong thôn, đó là đồi Khoang Lươn, đồi Cây Sến, đồi Bù Chè.

Khe Phắt bắt nguồn từ núi Bù Mùn chảy qua thôn khoảng 3,5km, chia thôn thành 2 cụm dân cư, chảy về địa phận thôn Vân Thượng và xuôi vào sông Hiếu, Nghệ An. Khe Phắt là nguồn nước chủ yếu phục vụ sinh hoạt của nhân dân trong thôn và tưới tiêu cho các xứ đồng: đồng Lớn, đồng Bừa, đồng Lỏ, đồng Quan, đồng Trong, đồng Giếng.

Thôn Vân Thượng hiện nay có 95 hộ, 431 nhân khẩu.

2.16. Thôn Vân Trung.

Thôn Vân Trung là một làng cổ của người Thổ từ xưa gọi là Lúng Tặng. Truyền thuyết kể lại rằng thời xa xưa vùng đất của làng ở núi Tầm Phang, dân cư đông đúc, một hôm có một con nai bạc chạy vào làng dân làng đã vây bắt mổ làm thịt chia nhau về ăn, chỉ có hai mẹ con nhà nọ đi vắng khi về thì thấy phần thịt làng chia cho treo trước cửa. Họ ngạc nhiên nên sang nhà bên cạnh hỏi thăm thì thấy mọi người đã bị chết, đi đến nhà nào cũng vậy chỉ có một nhà còn lại một ông cụ già, ông ấy đã nói với hai mẹ con câu chuyện con nai bạc và dặn dò hai mẹ con không được ăn thịt nai, không ở đất làng đó nữa và ông cụ còn chỉ cho nơi ở mới. Theo lời ông già, hai mẹ con đã tìm nơi ở mới, khai đất dựng nhà hình thành nơi ở mới. Đời sau, con cháu họ gọi là Lúng Tặng tức ở nơi mới được ban tặng.

Thôn có các dãy đồi thấp: Đồi Bai Rềnh, Đồi Mùn Láo, Đồi Chóng Chóng, đồi Chắn Chắn, đồi Vể, đồi Côm, đồi Thi, đồi Chiếng, đồi Tình . Phía Đông Nam có suối Lúng Mai, phía Tây có khe Hón Xúc; phía Bắc rừng Bù Tây có khe hón Lụy, hón Tầm Mơ của xã Cát Tân. Người dân canh tác trên các xứ đồng: đồng Đặng (gọi theo tên làng); đồng Trong (cuối làng); đồng Kè (có cây kè lớn); đồng Rềnh (có nhiều cây rềnh).

Thôn Vân trung hiện nay có 84 hộ, gồm 380 nhân khẩu.

2.17. Thôn Vân Tiến.

Tháng 8 năm 2018, theo Quyết định 3110/QĐ - UBND của UBND tỉnh Thanh Hóa, sáp nhập thôn Vân Tiến và thôn Vân Phúc để thành lập thôn Vân Tiến.

- Thôn Vân Tiến có từ lâu đời do người Thái khai phá gọi là Piêng Pháng (Bừa Phang - Bừa có nghĩa là một dải đất bằng bên cạnh suối; Phang là cây vang, một loại cây gỗ nhân dân thường sử dụng làm dược liệu điều trị chấn thương làm tan máu đông). Ban đầu có 7 hộ người Thái sinh sống.

Năm 1964, gọi là Hợp tác xã xóm Phang. Năm 1989 xóm Phang được đổi tên thành thôn Vân Tiến ( Vân là từ gọi chung của các thôn trong xã Cát Vân; Tiến với ý nghĩa tiến lên). Thôn Vân Tiến gồm có hai khu gọi là khu Phang 1 và khu Phang 2. Phang 1 do người Thái khai phá từ xưa gọi là Piêng Pháng (Bừa Phang). Phang 2 hình thành năm 1964 do 5 hộ người Kinh di dân từ xã Quảng Phong, huyện Quảng Xương lên khai hoang lập nghiệp, sau đó có các hộ từ xã Xuân Thắng, huyện Thường Xuân sang khai hoang mở rộng diện tích để sinh sống nên gọi là Khu Khai Hoang.

Thôn nằm dưới thung lũng được bao quanh là đồi núi đất, đất đai màu mỡ thuận tiện cho việc trồng trọt và chăn nuôi của nhân dân. Các đồi đất bao bọc quanh thôn, tên đồi được gọi theo tên khe, gồm: Đồi hón Xúc, đồi hón Lượn, đồi hón Ốc, đồi hón Hùng, Đồi đồng Rẽ, đồi hón Má, đồi hón Đền, đồi hón Cảng, đồi hón Đứng... Các xứ đồng trong thôn: đồng hón Xúc (gọi theo tên khe); đồng Mài (nơi đây ngày trước có rất nhiều đá mài, nhân dân lấy về làm đá mài dao rất sắc nên gọi là đồng Mài); đồng Thổ (ngày trước có cây thổ to); đồng Rẽ (gọi theo tên khe); đồng Đền (ngày trước có 01 ngôi đền); đồng Giữa (đồng ở giữa làng); đồng Ngã Nước (nơi hội tụ của 3 con khe trước khi chảy về Thường Xuân); đồng Bụi Tre (ngày trước có bụi tre lớn). Trong thôn có khe lớn nhất là Huống Luồng (Khe Cái) bắt nguồn từ thôn Vân Phúc qua địa phận thôn khoảng 5km. Khe Cái hợp thành từ các khe: hón Xúc, hón Lượn, hón Ốc, hón Má, hón Hùng, hón Đền, hón Đung, đồng Rẽ đổ ra Ba Khe của huyện Thường Xuân.

- Thôn Vân Phúc là vùng đất cổ do tổ tiên người Thái khai phá từ lâu đời, ban đầu gọi là bản Hón Ré (Bán Thé). Địa hình của thôn chủ yếu là đồi núi thấp, gồm 04 dãy núi chính: núi Pú Cô Vường (núi Gốc Vương) ở phía Đông, núi Pù Phai (núi có hồ nước) ở phía Tây Nam, núi Pu Pa Cau (núi Cây Trẩu) ở phía Tây Bắc, và núi Pu Co Bá (núi Cây Đa) ở phía Đông Bắc. Từ núi Bù Mùn có 2 con suối chảy qua thôn là huối Húc chảy qua phía Đông và huối Ré chạy giữa làng đến địa phận thôn Vân Tiến thì nhập thành một con suối lớn gọi là suối Phang. Các con suối cung cấp nguồn nước sinh hoạt và tưới tiêu cho hoạt động sản xuất của nhân dân trên các xứ đồng: túng Co Phát (đồng Cây Lội); túng Co Hiến (đồng Cây Xoan); túng Thé (đồng Ré); túng Kẻm Hâm (đồng Hổ).

Thôn Vân Tiến hiện nay có 112 hộ, 572 nhân khẩu.

2.18. Thôn Cát Xuân .

Tháng 8 năm 2018, theo Quyết định 3110/QĐ - UBND của UBND tỉnh Thanh Hóa, sáp nhập thôn Cát Xuân và thôn Tân Xuân để thành lập thôn Cát Xuân.

- Cát Xuân trước đây là làng Đồng Mờn, làng Pheo (người Thổ gọi là làng Luồng). Theo các cụ cao niên trong thôn, ban đầu thôn có tên gọi là làng Đồng Mờn, đến năm 1958 sát nhập với làng Lúng thành xóm Cát Thắng, xã Yên Cát. Đến năm 1961 , thành lập HTX xóm Pheo, bao gồm 4 làng: Luồng, Pheo, Đồng Mờn, Lúng Còng. Sau khi lên HTX cấp cao gọi là Đội 5, HTX Thắng Lợi, xã Cát Vân. Đến năm 2007 , chia tách thành 2 thôn là Tân Xuân và Cát Xuân.

- Thôn Tân Xuân mới tách ra từ thôn Cát Xuân năm 2007 . Lịch sử của thôn gắn liền với quá trình hình thành, tên gọi của thôn Cát Xuân .

Thôn Cát Xuân hiện nay có 165 hộ, 780 nhân khẩu.

2.19. Thôn Cát Lợi

Tháng 8 năm 2018, theo Quyết định 3110/QĐ - UBND của UBND tỉnh Thanh Hóa, sáp nhập thôn Cát Lợi và thôn Tân Lợi để thành lập thôn Cát Lợi

- Cát Lợi là vùng đất cổ hình thành từ lâu đời, lúc mới hình thành gọi là bản Hung. Từ năm 1960 , gọi là HTX Yên Lợi. Năm 1970 hợp nhất hai làng Yên Lợi và làng Pheo thành HTX Thắng Lợi, sau khi chia tách HTX Thắng Lợi, gọi là thôn Cát Lợi. Năm 2007 , thôn được chia tách thành 2 thôn là Cát Lợi và Tân Lợi. Tháng 8 năm 2018, theo Quyết định 3110/QĐ - UBND của UBND tỉnh Thanh Hóa, sáp nhập thôn Cát Lợi (95 hộ, 415 nhân khẩu, diện tích 182,17ha) và thôn Tân Lợi (71 hộ, 292 nhân khẩu, diện tích 165,13ha) để thành lập thôn Cát Lợi.

Thôn có d ãy núi Thân từ phía Đông xuôi về phía Nam giáp Thanh Vân là cánh đồng Tầm Biện, tiếp đến là đồi cây Đa và khe Cầu Bưởi, từ khe Cầu Bưởi về phía Tây là ao Bóng Lội, dãy núi Bừa Tung và Tầm Chanh giáp với Phụ Vân, đến khu đ ồng Giếng. Các ngọn núi: Cáo, Mù Hung, Mù Khoang, Mù Nang, Chẹ có độ cao khoảng 80m, 90m.Thôn có các thung lũng khi xưa là nơi heo hút, hiu quạnh; một trũng sâu được bao bọc bởi các núi xung quanh, ít nguời qua lại nên đặt tên gọi là Hón Quánh, Hón Man. Trước đây, tại khu vực này có những tảng đá tự nhiên được tạo hóa giống như cái Man (cái thang) nên gọi là Hón Man. Các xứ đồng: đồng Lớn, Khố, Tổn (làng Bừa), Mư.

- Thôn Cát Lợi k hi mới khai đất lập bản người Thái gọi là bản Hung, thời Pháp thuộc gọi là làng Cát Dân, Thời kỳ 1960 thành lập HTX được đổi tên thành Yên Lợi, từ năm 1970 hợp nhất 2 làng Yên Lợi và làng Pheo (thôn Cát Xuân hiện nay) thành lập HTX Thắng Lợi. Khi HTX Thắng Lợi chia tách, thôn được đổi tên thành Cát Lợi, đến năm 2007 , thôn Cát Lợi chia thành thôn Cát Lợi và thôn Tân Lợi.

Thôn Cát Lợi hiên nay có 166 hộ, 7 90 nhân khẩu.

2.20. Thôn Thanh Vân

Tháng 8 năm 2018, theo Quyết định 3110/QĐ - UBND của UBND tỉnh Thanh Hóa, sáp nhập thôn Thanh Vân và thôn Tân Thanh để thành lập thôn Thanh Vân.

- T hôn Thanh Vân t rước đây thôn thuộc vùng đất của làng Pheo xã Cát Vân và một phần của thôn Đồng Quan xã Hóa Quỳ trước đây. Năm 1964, khi có chính sách di dân từ miền xuôi lên miền núi làm kinh tế mới, cán bộ và nhân dân xã Quảng Chính, huyện Quảng Xương trước đây di dân lên thôn Đồng Phống, xã Thanh Lâm trước đây khai hoang sinh sống. Nhưng do vùng đất này rất khó khăn về nước sinh hoạt, đến năm 1972, cán bộ và nhân dân trong thôn di chuyển về xã Cát Vân và được chính quyền và nhân dân thôn Cát Lợi, Cát Xuân, xã Cát Vân, thôn Đồng Quan xã Hóa Qùy nhường lại cho khu vực giáp ranh giữa các thôn để khai hoang, làm ăn sinh sống. Khi mới chuyển đến gọi là Khoang Sắn. Nghe người dân kể lại, khi bắt đầu khai hoang sinh sống, điều kiện kinh tế khó khăn, đường sá chỉ là lối mòn, rừng rú rậm rạp, ban đầu người dân chủ yếu là trồng sắn nhỏ lẻ theo từng khoang đất là những nơi dễ làm nên gọi là khoang sắn . Sau khi chính thức thành làng gọi là Thanh Vân. Thanh từ xã Thanh Lâm và Vân trong xã Cát Vân ghép lại thành tên thôn .

- Thôn Tân Thanh mới được chia tách từ thôn Thanh Vân năm 2007. Lịch sử hình thành, phát triển thôn Tân Thanh gắn với thôn Thanh Vân. Dân cư có nguồn gốc từ xã Quảng Chính, huyện Quảng Xương lên khai hoang, lập nghiệp. Năm 2007, xã Cát Tân chia tách 3 thôn lớn Cát Lợi, Cát Xuân và Thanh Vân thành 6 thôn. Thôn Thanh Vân tách thành hai thôn là thôn Thanh Vân (cũ) và thôn Tân Thanh. Tân Thanh nghĩa là thôn mới, tách từ Thanh Vân.

Thôn Thanh Vân hiện nay có 174 hộ, 781 nhân khẩu.

2.21. Thôn Cát Thịnh.

Thôn Cát Thịnh do các dòng họ: Vi, Lục, Hà, Lương, Lò của dân tộc Thái khai phá. Ban đầu chủ yếu là phát nương làm rẫy, chăn nuôi gia súc, gia cầm, đi săn bắt thú rừng, tìm ong để cải thiện bữa ăn hàng ngày. Do địa hình hiểm trở, đồi núi bao bọc, đường đi lối lại rất khó khăn nên các cụ trong thôn bản và các thôn bản lân cận gọi là Bán Túng Tang (dịch sang tiếng Kinh là làng khó về đường đi ). Sau này đặt tên là Hón Đường nghĩa là đường đi theo hón, theo khe .

Thôn Cát Thịnh nằm trong thung lũng, có hai dãy núi phía Bắc và phía Nam chạy dọc bao quanh thôn. Thôn Cát Thịnh có huối Luống (suối to). Suối bắt nguồn từ thôn Phụ Vân chảy xuống. Trước đây, môi trường sinh thái tự nhiên còn trong lành, rừng núi rậm rạp, nước suối trong và nhiều loại cá tự nhiên, có nhiều khe nhỏ từ các chân đồi núi chảy xuống, các cụ đặt tên như: Lu Tu, Tá Nhặt, Tá Luống, Tá Hanh. Các xứ đồng: đồng Khế (có cây khế); đồng Mới (bà con mới khai phá); đồng Bát (có đồi úp bát); đồng Đường (HTX làm đường đi); đồng Muổng (có cây xoài to); đồng Đình (có đình thờ); đồng Chòn (có khe Chòn để tưới tiêu); đồng Lỷ (có khe Lỷ trước cánh đồng); đồng Quằn (dưới núi đá Quằn).

Thôn Cát Thịnh hiện nay có 109 hộ, 4 68 nhân khẩu

2.22. Thôn Phụ Vân .

Vùng đất hiện nay của thôn Phụ Vân vốn một phần của khu Bán Phà (tiếng Thái), đồng Lèn thuộc Cát Thịnh và phía ngoài đồng Lèn trở ra là đất Yên Lợi. Xưa kia, nơi đây chỉ có ông cố Yên sinh sống cai quản, sau cải cách, ông Yên quay về Yên Lợi để lại khu đất cho ông Xạ Thân, thời gian sau, ông Xạ Thân lại quay về Cát Thịnh, dấu vết còn lại là một cây mít và mấy cây bưởi to. Đến năm 1979 , thực hiện theo chủ trương của Đảng, Nhà nước người dân Hoằng Phụ - Hoằng Hóa lên khai hoang vỡ hóa, hình thành thôn Phụ Vân cho đến nay.

Thôn có khe Rùng Rùng (tiếng Thổ) do rừng núi âm u nước thác chảy xuống phát ra âm thanh rùng rùng nên gọi là khe Rùng Rùng; khe Đác Ấm (tiếng Thổ) nước chảy từ trong l èn Hung ra, mùa hè thì mát rượi, mùa đông thì ấm nên có tên là khe nước ấm. Một khe nữa gọi là khe Tá Mài (tiếng Thổ), là một nhánh nhỏ từ đồi cao chảy xuống, chảy ra ruộng lúa, trước đây dân bản khai khẩn lấp phía đuôi khe làm ruộng, nên dòng nước khe Rùng Rùng lớn hơn chảy về phía thôn Cát Thịnh. Khe suối cung cấp nguồn nước sinh hoạt và phục vụ nông nghiệp, cấy lúa và làm hoa màu, người dân nhờ vào nguồn nước này tưới tiêu cho các xứ đồng: Tá Mài (lấp đuôi khe đá); Lèn Ngoài (phía trong lèn); Lèn Trong (phía ngoài Lèn).

Thôn phụ vân hiện nay có 69 hộ, 309 nhân khẩu.

ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ THƯỢNG NINH

Trung tâm cung ứng dịch vụ công xã Thượng Ninh
Tin liên quan
Tin nổi bật
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement

image advertisement

image advertisement

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

CƠ QUAN CHỦ QUẢN: UBND XÃ THƯỢNG NINH
Địa chỉ: Thôn Cát Xuân, Xã Thượng Ninh, tỉnh Thanh Hóa
Email: ubndxathuongninh@.gmail.com
Trưởng Ban biên tập: Lê Khắc Công     Chức vụ: UV BTV, Phó Chủ tịch UBND xã Thượng Ninh.
Ghi rõ nguồn: Trang thông tin điện tử xã Thượng Ninh hoặc https://thuongninh.thanhhoa.gov.vn khi bạn phát hành lại thông tin từ Website này.

Website được thiết kế bởi VNPT