Hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng “2 con số,” đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững
Mục tiêu của đất nước là phát triển nhanh, bền vững, đến năm 2030, trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, thuộc nhóm 30 nền kinh tế quy mô hàng đầu thế giới.
Việt Nam phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân đạt từ 10%/năm trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân.
Để hiện thực hóa hai mục tiêu chiến lược 100 năm mà Đảng đã đề ra thì việc duy trì tăng trưởng kinh tế “2 con số” trong cả nhiệm kỳ 2026-2031 và những năm tiếp theo là yêu cầu, đòi hỏi cấp bách, khách quan.
Kết luận Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số” (gọi tắt là Kết luận số 18-KL/TW) ban hành ngày 2/4/2026, tổng kết toàn diện tình hình phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2021-2025, đồng thời cụ thể hóa các định hướng lớn của Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Đây là một văn kiện mang tầm chiến lược, thể hiện tinh thần quyết tâm mạnh mẽ, tư duy đổi mới sâu sắc cùng những hành động quyết liệt nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.
Mục tiêu tăng trưởng “2 con số” gắn với phát triển nhanh, bền vững
Kết luận số 18-KL/TW nêu rõ: Tình hình thế giới giai đoạn 2021-2025 có những thời cơ, cơ hội và khó khăn, thách thức đan xen, nhưng khó khăn, thách thức là chủ yếu; tuy nhiên, với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân dưới sự lãnh đạo của Đảng; sự giám sát, đồng hành, phối hợp của Quốc hội; sự chỉ đạo, điều hành quyết đoán, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương, đất nước ta tiếp tục đạt được những thành tựu quan trọng, toàn diện, đột phá, nhiều điểm sáng nổi bật; đạt và vượt 22/26 chỉ tiêu kinh tế-xã hội chủ yếu giai đoạn 2021-2025, trong đó hoàn thành toàn bộ chỉ tiêu về xã hội.
Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm, tăng trưởng phục hồi mạnh mẽ và đạt kết quả tương đối cao, bình quân 5 năm đạt 6,2%/năm, trong đó năm 2025 đạt 8,02%. GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao. Lạm phát, bội chi ngân sách nhà nước và các chỉ tiêu về nợ công được kiểm soát; bảo đảm an ninh, an toàn tài chính quốc gia.
Thực hiện 3 đột phá chiến lược đạt nhiều kết quả nổi bật; nhiều dự án tồn đọng, doanh nghiệp thua lỗ kéo dài, các tổ chức tín dụng yếu kém được xử lý có kết quả. Hệ thống hạ tầng được phát triển đồng bộ, hiện đại. Phát triển nguồn nhân lực, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đạt kết quả tích cực. An sinh xã hội được bảo đảm, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được nâng lên. Quốc phòng, an ninh được củng cố, tăng cường; đối ngoại và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh.
Tuy nhiên, Kết luận số 18-KL/TW cũng chỉ ra những hạn chế, yếu kém: nền tảng kinh tế vĩ mô chưa thực sự vững chắc, năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng chống chịu và sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đóng góp chưa nhiều cho tăng trưởng. Chưa có cơ chế, chính sách đủ mạnh để thu hút nguồn lực từ khu vực tư nhân và đầu tư nước ngoài. Đời sống của một bộ phận người dân còn khó khăn. Tình trạng ô nhiễm môi trường chưa được kiểm soát hiệu quả. Hoạt động của một số chính quyền cấp xã sau sắp xếp còn gặp khó khăn, lúng túng.
Bước vào giai đoạn 2026-2030, tình hình thế giới có nhiều diễn biến mới hết sức phức tạp, khó lường; đặc biệt là xung đột ở Trung Đông gây gián đoạn nguồn cung, khiến giá dầu, khí và chi phí vận tải tăng cao, ảnh hưởng tiêu cực đến thương mại, đầu tư quốc tế và tác động trực tiếp đến việc thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội nước ta.
Trên cơ sở đánh giá toàn diện những thuận lợi, khó khăn, Ban Chấp hành Trung ương thống nhất các mục tiêu, chỉ tiêu để đạt tăng trưởng kinh tế ở mức 2 con số để hoàn thành 2 mục tiêu chiến lược 100 năm của đất nước.
Theo đó, mục tiêu của đất nước là phát triển nhanh, bền vững, đến năm 2030, trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, thuộc nhóm 30 nền kinh tế có quy mô hàng đầu thế giới.
Phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân đạt từ 10%/năm trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân.
Mục tiêu cũng bao quát các nội dung khác về thể chế, nguồn nhân lực, văn hóa, xã hội, môi trường, hạ tầng, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.
Các chỉ tiêu cụ thể được xác định đồng bộ, trong đó GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD; tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân khoảng 40% GDP; tỷ trọng kinh tế số đạt 30% GDP; kim ngạch xuất khẩu tăng 15-6%/năm; đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng trên 55%; tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 1-1,5 điểm phần trăm mỗi năm. Các chỉ tiêu này gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng, cải thiện đời sống Nhân dân và củng cố nền tảng phát triển bền vững.
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng “hai con số,” Kết luận số 18-KL/TW đã đề ra các quan điểm chỉ đạo nhất quán, mang tính nền tảng và đột phá: bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, phát huy vai trò kiến tạo của Nhà nước; huy động sức mạnh toàn dân, doanh nghiệp và hệ thống chính trị; đổi mới quản trị, phân cấp mạnh mẽ gắn với kiểm soát quyền lực; hoàn thiện thể chế, khơi thông nguồn lực, tháo gỡ điểm nghẽn. Đồng thời, yêu cầu bảo đảm an toàn tài chính quốc gia, quản lý nợ công bền vững và đầu tư công có trọng tâm, tạo lan tỏa.

Các giải pháp then chốt thực hiện tăng trưởng GDP “hai con số”
Với tinh thần khát vọng đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới và bốn quan điểm chỉ đạo nền tảng đột phá, Kết luận số 18-KL/TW không chỉ chú ý đến mục tiêu, mà đặc biệt còn nhấn mạnh cách thức tổ chức thực hiện, trong đó xác định năm 2026 là năm bản lề tạo đà cho cả giai đoạn.
Điểm nổi bật của Kết luận số 18-KL/TW chính là chuyển từ “định hướng” sang “hành động,” với một hệ thống giải pháp cụ thể, có lộ trình và gắn với trách nhiệm rõ ràng tới từng cá nhân lãnh đạo, các ban, bộ, ngành...
Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV ngày 13/4/2026, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị cho biết nhóm nhiệm vụ, giải pháp về phát kinh tế-xã hội 5 năm 2026-2030 gồm 11 nhiệm vụ cụ thể và các giải pháp trọng tâm, như: thống nhất tư duy, nhận thức, khát vọng và hành động; đổi mới quản trị thực thi để phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế "2 con số”; tập trung hoàn thiện thể chế phát triển đồng bộ, hiện đại, cạnh tranh để tạo đột phá tăng trưởng; chuyển đổi mô hình tăng trưởng, lấy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; đẩy mạnh cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực; phát triển các khu vực doanh nghiệp và các mô hình kinh tế mới; thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; khơi thông và đa dạng hoá chuỗi cung ứng, kênh dẫn vốn; tập trung đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và chuẩn mực con người Việt Nam; hiện đại hoá nền giáo dục quốc dân, nâng cao chất lượng đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài; phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, thúc đẩy đô thị hóa, phát triển đô thị...
Một trục nội dung đặc biệt quan trọng của Kết luận là bảo đảm an ninh tài chính quốc gia, nâng cao hiệu quả quản lý tài chính công, kiểm soát chặt chẽ nợ công. Trong đó, đầu tư công trung hạn được xác định phải thực hiện theo nguyên tắc tập trung, trọng tâm, trọng điểm, có tính lan tỏa cao, dẫn dắt và kích hoạt các nguồn lực xã hội, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng. Đây là trụ cột quan trọng bảo đảm nền tảng vĩ mô cho mục tiêu tăng trưởng “2 con số.”
Theo Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị, tổ chức thực hiện là khâu quyết định, đòi hỏi các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, nhất là người đứng đầu, phải chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể, gắn rõ trách nhiệm, rõ lộ trình, rõ kết quả; triển khai đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả; tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, xử lý dứt điểm các vấn đề phát sinh. Chỉ khi tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, các mục tiêu, nhiệm vụ của Kết luận mới thực sự đi vào cuộc sống.
Đổi mới căn bản tư duy phát triển, khai thác hiệu quả mọi nguồn lực và vốn để tăng trưởng bền vững
Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ngày 13/4/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định phải đổi mới căn bản tư duy phát triển, khai thác hiệu quả mọi nguồn lực và vốn để tăng trưởng bền vững. Một nền kinh tế muốn tăng trưởng cao, bền vững và có khả năng bứt phá, không chỉ vận hành trên nền tảng một nguồn lực đơn nhất, càng không thể đặt toàn bộ gánh nặng phát triển lên vai Nhà nước.
Nhà nước cần dịch chuyển từ vai trò nhà đầu tư trực tiếp sang vai trò thiết kế và tạo lập môi trường để mọi nguồn lực trong xã hội được huy động và phân bổ theo tín hiệu thị trường, dưới khuôn khổ thể chế minh bạch, ổn định. Trên nền tảng đó, cần định vị lại vai trò của các nguồn vốn trong một cấu trúc phát triển mới nơi các dòng vốn không tồn tại biệt lập mà tương tác, khuếch đại và dẫn dắt lẫn nhau.
Vốn nhà nước phải được định vị đúng bản chất là vốn mồi, vốn kiến tạo để định hình không gian phát triển, giảm thiểu rủi ro ban đầu, từ đó dẫn dắt và kích hoạt hiệu quả các dòng vốn ngoài nhà nước. Vốn doanh nghiệp, bao gồm khu vực tư nhân và FDI, cần được định hướng vào các ngành sản xuất giá trị gia tăng cao, các dự án đổi mới sáng tạo và các chuỗi giá trị tri thức.
Nguồn vốn vay nước ngoài phải được sử dụng theo nguyên tắc chọn lọc chiến lược, gắn với năng lực hấp thụ và khả năng trả nợ trong dài hạn, ưu tiên cho các dự án hạ tầng then chốt và các lĩnh vực có khả năng lan tỏa cao.
Thị trường tài chính, bao gồm thị trường vốn, tín dụng và trái phiếu, phải thực sự trở thành kênh dẫn vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế thực. Trọng tâm là hướng dòng vốn vào các ngành sản xuất, đổi mới sáng tạo và hệ thống hạ tầng thiết yếu, qua đó nâng cao chất lượng tăng trưởng.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ngày 13/4/2026.
Đồng thời, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ: “Mục tiêu tăng trưởng hai con số là mục tiêu lớn, đòi hỏi quyết tâm rất cao, cách làm sáng tạo, bảo đảm sao cho vĩ mô đúng, nhưng vi mô cũng phải đúng. Nếu vi mô không thông suốt, dòng vốn không chảy đến nơi cần, lao động không được sử dụng hiệu quả, sản xuất gặp tắc nghẽn, hộ gia đình và doanh nghiệp nhỏ không có động lực vươn lên, thì tăng trưởng sẽ thiếu lực đẩy, thiếu sức bền và thiếu nền tảng phát triển bền vững cho cả quốc gia.”
Với nhận định nền kinh tế chỉ thực sự mạnh khi từng tế bào của nó khỏe mạnh, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu tăng trưởng thực chất phải được hình thành cả hai chiều từ trên xuống và cả từ dưới lên, trong từng mắt xích của nền kinh tế, từ từng hộ gia đình, từng hộ kinh doanh, từng cơ sở sản xuất, từng doanh nghiệp. Khi nội lực trong dân được khơi thông, được kết nối với nguồn lực nhà nước, với hạ tầng, với thị trường, với công nghệ, với đào tạo, với tín dụng, với quy hoạch phát triển, thì nền kinh tế sẽ có một nền móng nội lực vững chắc cho tăng trưởng một cách ổn định, bền vững.
Từ đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gợi mở phải kiến tạo một môi trường phát triển để hàng triệu người dân nhận thấy cơ hội thực sự, để mỗi hộ gia đình, mỗi hộ kinh doanh có điều kiện thuận lợi để đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh chân chính và gắn bó lâu dài với nền kinh tế. Đồng thời, phải đảm bảo rằng các doanh nghiệp nhìn thấy thể chế ổn định, minh bạch, chi phí tuân thủ hợp lý, hạ tầng đồng bộ và khả năng tiếp cận thị trường rộng mở, từ đó tạo ra động lực nội sinh mạnh mẽ, thúc đẩy sáng tạo, khởi nghiệp và phát triển bền vững.
Mỗi cơ chế, chính sách, mỗi dự án hạ tầng, mỗi dòng vốn đều phải hướng đến việc kích hoạt năng lực và khát vọng phát triển trong dân, biến cơ hội tiềm năng thành thực tế tăng trưởng và biến niềm tin thành động lực phát triển lâu dài cho đất nước, cho nền kinh tế.
Đất nước đang đứng trước thời cơ lớn. Nhưng thời cơ chỉ trở thành hiện thực khi được đón nhận bằng tư duy mới, thể chế mạnh, bộ máy đồng bộ và niềm tin xã hội được vun đắp từng ngày. Như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định: “Điều quan trọng hơn cả là phải tạo được niềm tin và động lực phát triển trong toàn xã hội. Khi người dân tin tưởng, doanh nghiệp tin tưởng, hệ thống vận hành thông suốt, nguồn lực được khơi thông, thì khát vọng phát triển sẽ được chuyển hóa thành sức mạnh thực tế, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn tới”.
Nguồn:https://www.vietnamplus.vn/hien-thuc-hoa-muc-tieu-tang-truong-2-con-so-dua-dat-nuoc-phat-trien-nhanh-va-ben-vung-post1104942.vnp